KINH NGHIỆM phân biệt và chẩn đoán sớm, chính xác hội chứng GAN TỤY chết sớm (EMS) và ĐỐM TRẮNG (WSSV)

Ngày đăng: 26/05/2020

Theo kinh nghiệm của người nuôi tôm thì “mỗi mùa mỗi bệnh”, mùa lạnh thì bị đốm trắng, đỏ thân còn mùa nóng thì bị gan tụy, phân trắng. Tuy nhiên quy luật này bị phá vở bởi các bệnh xuất hiện trong những năm gần đây gần như quanh năm.

Trong các bệnh nguy hiểm thường gặp, bệnh AHPNS/ EMS và chết đỏ (đỏ thân đốm trắng) là những bệnh phổ biến, nguy hiểm và gây tác hại nặng nề nhất cho người nuôi tôm. Do đó việc chuẩn đoán đúng bệnh, phát hiện sớm và kịp thời giúp cho người nuôi chủ động phòng ngừa bệnh hiệu quả hơn. Từ đó làm giảm tổn thất và thiệt hại khi xảy ra bệnh, đưa ra quyết định điều trị, nuôi tiếp hay thu hoạch đúng lúc, kịp thời và hiệu quả.

1. Hội chứng chết sớm (EMS) hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND)

1.1 Tác nhân gây EMS trên tôm

- Tác nhân gây bệnh EMS trên tôm được xác định cụ thể là các chủng Vibrio parahaemolyticus (Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lộc, 2013), vì chứa plasmid độc hại có các gen độc pirA và B (pirAB).

Hình 1.1: Tác nhân gây bệnh mới Vibrio owensii

Hình 1.1: Tác nhân gây bệnh mới Vibrio owensii 

- Trong một báo cáo mới đây các nhà khoa học Trung Quốc cũng chỉ ra rằng dòng Vibrio owensii mang plasmid độc cũng nổi lên như một tác nhân mới gây EMS trên tôm. Đó là bằng chứng cho thấy sự truyền ngang của gen pirVP hoặc plamid pVA1 giữa các loài vi khuẩn khác nhau, do đó làm tăng sự phức tạp của các tác nhân gây bệnh và gia tăng mối đe dọa cho ngành tôm toàn cầu.

- Khi xâm nhập vào đường tiêu hóa của tôm, Vibrio sp có thể sản xuất độc tố gây ra hủy hoại mô tế bào của gan tụy tôm.

1.2 Dấu hiệu bệnh EMS

 

Hình 1.1: Tác nhân gây bệnh mới Vibrio owensii

Hình 1.2: Dấu hiệu tôm bệnh EMS; (1) Giai đoạn đầu của bệnh chổ nổi giữa dạ dày và gan tụy bị mờ đục, đường ruột vẫn đầy thức ăn, màu gan bình thường. (2) Khoảng mờ đục rộng hơn, gan đổi màu, dạ dày màu đỏ và chuyển đục, có và không có thức ăn. (3) Gan giảm kích thước mờ nhạt, không có thức ăn, ruột lỏng, đỏ, tôm lờ đờ bỏ ăn. (4) Gan tụy teo, dạ dày và ruột trống, tôm yếu và hao hụt dần.


• Tôm bị nhiễm EMS chuyển sang màu sắc nhợt nhạt với tôm thẻ, tôm sú khi nhiễm EMS thường sậm màu hơn. Tôm giảm ăn.

• Gan teo lại và có đốm đen xuất hiện trong gan. Gan tụy chuyển dần sang màu trắng, khối gan tụy của tôm khó bị bóp vỡ giữa hai ngón tay cái và ngón trỏ.

• Vỏ trở nên mềm.

• Ruột không có thức ăn hoặc đứt khúc.

• Tôm lờ đờ, chậm phát triển, tôm yếu dần và chết chìm dưới đáy ao.

1.3 Biện pháp kiểm soát EMS trên tôm

 

Hình 1.1: Tác nhân gây bệnh mới Vibrio owensii

Hình 1.3: Biện pháp kiểm soát EMS trên tôm

- Tuân thủ nghiêm ngặt an toàn sinh học.

- Duy trì độ pH ở 8-8,3 và độ kiềm không nhỏ hơn 100 mg/L, oxy phải luôn > 5ppm. 

- Các biện pháp phổ biến để phòng ngừa EMS trên tôm nuôi là nuôi ghép với cá rô phi hoặc sử dụng cá rô phi trong hệ thống lọc sinh học.

- Con đường xâm nhập chính của vibrio là thông qua thức ăn nên ngừng cho ăn cho đến khi ngừng chết và kiểm tra thấy tôm khỏe mạnh trong sàng ăn hơn sau đó bắt đầu cho ăn dần dần.

- Một lưu ý quan trọng để phòng bệnh EMS trên tôm là loại bỏ chất thải trong ao nuôi tôm định kỳ bằng phương pháp xiphong, có thể thiết kế hố xiphong để hút chất thải định kỳ hoặc thường xuyên bổ sung men vi sinh nhằm xử lý chất thải. Loại bỏ chất thải góp phần làm giảm vi khuẩn gây bệnh trong ao nuôi tôm. - Thường xuyên kiểm tra mật độ vi khuẩn gây bệnh định kỳ 5 – 7 ngày/lần khi mật độ vi khuẩn tăng cao hơn 103 CFU/ml có thể sử dụng thuốc diệt khuẩn như BKC, iodine, Rudo, Virkon 2 ngày liên tiếp cho đến khi mật độ khuẩn có hại trong nước giảm. Sau khi dùng diệt khuẩn 48h cần cấy lại men vi sinh liều cao giúp ổn định môi trường.

 


Hình 1.1: Tác nhân gây bệnh mới Vibrio owensii

Hình 1.4: Phương pháp test khuẩn kiểm tra EMS 

1.4 Phòng ngừa và điều trị bệnh 

Khi tôm có dấu hiệu bệnh gan, giảm thức ăn, trộn Antirota (3-5g/kg) hay Prosize 20new (5ml/kg) liên tục trong 3-5 ngày, sau đó trộn men vi sinh đường ruột SH zyme, bổ gan Liver bio kết hợp VS01, Zp us xử lý đáy ao cho tôm khỏe mạnh.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 1.5: Bộ sản phẩm AEC đặc trị EMS, tôm chết rãi rác

2. Bệnh đốm trắng (WSSV)

2.1 Dấu hiệu của bệnh đốm trắng do vi rút

Hình 2.1: Tôm biểu hiện đốm trắng khi mắc bệnh

• Tôm bị nhiễm bệnh có biểu hiện ăn mạnh và giảm ăn đột ngột, gan sưng, tôm bơi lội chậm chạp trên mặt nước hay tấp mé lúc tối hay 8-9h sáng. Độc lực của virus rất mạnh do đó chưa thấy đốm trắng tôm đã chết.

• Xuất hiện đốm trắng có kích thước 0,5-3 mm trên giáp đầu ngực sau đó lan ra toàn cơ thể.

• Tôm thẻ chân trắng có thể có màu hồng hoặc đỏ. 

2.2 Các nguyên nhân gây đốm trắng trên tôm

- Bệnh đốm trắng do vi-rút là một trong những bệnh nguy hiểm cho tôm nuôi vì tỷ lệ chết cao và thời gian chết rất nhanh. Tuy nhiên, không phải tôm có đốm trắng nào cũng do vi-rút gây ra mà có thể tôm bị đốm trắng do vi khuẩn hay do yếu tố môi trường.

- “Hầu hết người nuôi dựa vào các đốm trắng xuất hiện trên vỏ tôm như một biểu hiện lâm sàng đặc trưng cho WSD và nhanh chóng thu tôm mà chưa hề biết nguyên nhân thực sự là gì”.

- Để giải quyết các vấn đề trên, người nuôi cần phải hiểu rõ về các cơ chế cũng như những con đường hình thành nên đốm trắng, từ đó giúp người nuôi hiểu rõ hơn về bệnh đốm trắng và đưa ra một quyết định đúng đắn có nên thu tôm khẩn cấp hay không.

  • Các con đường hình thành đốm trắng

Có ba khả năng hình thành đốm trắng trên tôm:

Khả năng thứ 1 (liên quan đến WSSV): Tôm bị đốm trắng loại này thường giảm ăn, tấp mé, bơi lờ đờ mặt nước và chết một lượng lớn trong thời gian ngắn từ 3 đến 7 ngày, kể từ khi xuất hiện bệnh. Quan sát dưới kính hiển vi thông thường, các đốm trắng có màu nâu vàng và mờ đục trong khi quan sát bằng mắt thường chúng lại có màu trắng ngà.

Hình 2.2 Tôm biểu hiện đốm trắng khi mắc bệnh

Hình 2.2: Tôm bị bệnh đốm trắng, đỏ thân

Khả năng 2 (liên quan đến pH): Tôm bị đốm trắng loại này vẫn duy trì hoạt động và ăn uống bình thường mà không xuất hiện tôm chết. Kiểm tra PCR, mô học và MAb-I cho kết quả âm tính với WSSV. Nguyên nhân đốm trắng loại được cho là do tiếp xúc với pH môi trường ao nuôi cao trong thời gian dài. Khi pH môi trường nước lớn hơn 8 thường làm cho Canci đóng tụ trên vỏ tôm và dẫn đến xuất hiện đốm trắng và những đốm này sẽ biến mất sau khi lột.

Khả năng 3 (liên quan đến vi khuẩn): Loại này thường được gọi là bệnh đốm trắng gây ra bởi vi khuẩn (BWSD). Tôm bị đốm trắng loại này vẫn hoạt động, ăn uống bình thường, không xuất hiện tôm chết quá nhiều sau khi lột.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

  • So sánh đốm trắng gây ra bởi virus và đốm trắng gây ra bởi vi khuẩn

Kiểm tra bằng các cách thông thường như quan sát bằng mắt thì đốm trắng gây ra bởi WSSV và vi khuẩn trông giống nhau, nhưng khi quan sát bằng kính hiển vi điện tử thì chúng khác nhau. Các điểm khác nhau chính giữa hai loại đốm trắng:

- Đốm trắng gây ra bởi WSSV dễ nhìn thấy trên vỏ tôm còn sống, trong khi đó đốm trắng gây ra bởi vi khuẩn khó nhận ra hơn và chỉ có thể quan sát được trên vỏ tôm đã lột.

- Quan sát dưới kính hiển vi soi tươi, đốm trắng của WSSV xuất hiện dày đặc có nhân đậm màu ở trung tâm, còn đốm trắng của vi khuẩn có màu nâu đậm, dễ bị đổi màu, có các vòng tròn đồng tâm trông giống địa y và vùng trung tâm có màu đậm hơn.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 2.3: Tôm bị đốm trắng, quan sát trên đốm trắng có nhân đậm ở trung tâm và nhiều đốm melanin xung quanh

- Tôm bị đốm trắng gây ra bởi virus sẽ chết trong vòng từ 3 đến 7 ngày kể từ khi xuất hiện đốm trắng trên vỏ trong khi đó không xuất hiện tôm chết đối với trường hợp đốm trắng gây ra bởi vi khuẩn.

- Kiểm tra bằng phương pháp PCR, tôm bị đốm trắng gây ra bởi WSSV cho kết quả dương tính với WSSV, còn đốm trắng của vi khuẩn cho kết quả âm tính với WSSV.

  • Tầm quan trọng của việc chuẩn đoán phân biệt các loại đốm trắng

- “Sự xuất hiện của các đốm trắng trên cơ thể tôm khiến cho người nuôi hoang mang, hộ nuôi nhanh chóng thu tôm nhằm cứu vãn những gì có thể”. Với những hiểu biết trong cách phân biệt và chuẩn đoán về dấu hiệu của bệnh đốm trắng sẽ giúp nhiều trường hợp người nuôi tránh không phải vội vàng thu tôm và đạt được vụ nuôi thành công. Đốm trắng có thể hình thành do pH ao nuôi cao hay do sự tấn công của vi khuẩn. Do đó, phép chuẩn đoán phân biệt bệnh đóng một vai trò hết sức quan trọng. Tìm ra các phương pháp kiểm tra bệnh “ngay tại ao nuôi” đơn giản, nhanh chóng và rẻ tiền mà không cần đến các thiết bị tinh vi là một vấn đề cần được quan tâm.

- Gần đây các nhà khoa học thuộc Phòng nghiên cứu Công nghệ sinh học và Bệnh cá thuộc khoa Nuôi trồng thủy sản (trường Đại học Fisheries, Ấn Độ) đã phát triển phương pháp MAb-I đặc biệt, nhạy và rẻ nhằm phát hiện WSD trên tôm bị bệnh. Phương pháp này được cải tiến thành bộ kit phát hiện WSSV có thể sử dụng ngay tại ao từ đó giúp người nuôi đưa ra quyết định có thu tôm khẩn cấp hay không.

+ Nếu kiểm tra PCR và MAb-I cho kết quả dương tính với WSSV. Lúc này, người nuôi nên thu tôm ngay lập tức và nhanh chóng khử trùng ao nuôi để tránh các ao còn lại bị lây nhiễm bệnh.

+ Nếu âm tính, đốm trắng xuất hiện trên tôm do pH môi trường ao nuôi cao thường biến mất sau khi lột, tôm phát triển bình thường và đạt size tốt. Do đó, người nuôi không nên áp dụng bất kỳ phương pháp phòng bị hay trị bệnh nào.

2.3 Biện pháp phòng ngừa WSSV

Đây là bệnh do virus gây ra do đó chưa có thuốc điều trị cụ thể do đó cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho tôm:

- An toàn sinh học tại ao/trại nuôi tôm.

- Thực thi các biện pháp loại trừ tác nhân gây bệnh (sử dụng giống sạch SPF, xử lý nước, lọc nước, diệt khuẩn)

- Giảm tác nhân gây stress trong ao.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 2.5: Giải pháp kiểm soát WSSV

- Ngăn chặn dịch bệnh từ ngoài (hệ thống vệ sinh, lưới bắt chim).

- Thực hành quản lý tốt trang trại (dùng men vi sinh, áp dụng biofloc).

Ngoài những biện pháp trên thì yếu tố không thể thiếu đó là kích thích miễn dịch của tôm nhằm đề kháng với mầm bệnh. Các chất tăng cường miễn dịch như β-glucan, MOS (Mannan Oligosaccharide) đã được thử nghiệm phòng bệnh đốm trắng. 

3. Phân biệt bệnh EMS và WSSV để có giải pháp xử lý phù hợp

Khi tôm bị bệnh có dấu hiệu ăn mạnh rồi giảm ăn, bỏ ăn, bơi lờ đờ, tấp mé… sau khi kiểm tra các yếu tố môi trường thì tiến hành kiểm tra tôm để xác định đúng bệnh và đưa ra cách xử lý phù hợp và hiệu quả.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 3.1: Tôm có biểu hiện bệnh đốm trắng đỏ thân, tấp mé bờ


Đặc biệt đối với bệnh thường xuyên xảy ra như EMS và WSSV thì sau khi quan sát bằng cảm quan, đo yếu tố môi trường, thời tiết, tình hình dịch bệnh xung quanhthì để xác định chắc chắn, tránh nhầm lẩn bệnh nếu chỉ quan sát bằng cảm quan thì cần kiểm tra tôm bằng phương pháp PCR hay MAb-I.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 3.2: Kiểm tra nhanh bệnh bằng phương pháp PCR  


Từ kết quả này để quyết định xem nên điều trị, nuôi tiếp hay thu hoạch (tôm đạt size để bán), qua đó giúp người nuôi chuẩn đoán đúng bệnh, đưa quyết định kịp thời, điều trị hiệu quả, giảm chi phí và hạn chế rủi ro, thiệt hại khi tôm bệnh.

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 3.2: Kiểm tra gan tụy và đường ruột tôm thẻ nhiễm EMS

Bảng 1: Phân biệt bệnh EMS và WSSV trên tôm  

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 2.3: Tôm và vỏ đầu ngực của tôm bị đốm trắng do vi khuẩn (BWSD)

Hình 3.3: Bộ sản phẩm công ty AEC ngừa WSSV  

 

Âu Mỹ (AEC) bảo lưu QTG

ThS Hoàng Tuấn

Ghi rõ nguồn AECaqua.com khi đăng lại thông tin này.

 

Xem thêm trên kênh Youtube AU MY AEC >>

 

Để lại bình luận

popup

Số lượng:

Tổng tiền: