Quy trình QUÃNG CANH CẢI TIẾN nuôi TÔM trồng LÚA AEC (2 vụ tôm/ 1 vụ lúa)

Ngày đăng: 12/06/2020

 

Mô hình nuôi tôm lúa quãng canh cải tiến rất phát triển trong nhiều năm trở lại đây, vừa làm lúa có lợi nhuận, vừa thích ứng biến đổi khí hậu tận dụng nguồn nước mặn để nuôi tôm. Để mô hình tôm lúa, tôm quảng canh tăng năng suất, đạt hiệu quả cao người nuôi cần:

  • Chủ động được nguồn nước, ao (ruộng) phải giữ được nước, mương sâu rộng, bờ chắc chắn hạn chế đi nước.
  • Phải có ao lắng, ao vèo đủ điều kiện.
  • Giống phải được xét nghiệm, mua nơi có uy tín.
  • Hạn chế tối đa cấp xả nước, nhất là vào mùa nóng lúc dịch bệnh đang xảy ra, nên có ao lắng để xử lý nước trước khi cấp vào.
  • Phải sử dụng vi sinh, chế phẩm sinh học xử lí môi trường.
  • Phòng ngừa Rong phát triển trong ao nuôi.
  • Gây đủ thức ăn tự nhiên cho tôm.
  • Quan trọng nhất là nâng cao nhận thức, chuyên môn và thực hiện theo đúng quy trình nuôi. 

Hình 1.1 Thiết kế hệ thống ao nuôi quảng canh cải tiến

1. Bố trí mùa vụ và chuẩn bị vèo tôm

1.1 Mùa vụ (2 vụ tôm/1 vụ lúa)
   Thả tôm giống từ giữa tháng 12, nuôi 2 vụ đến cuối tháng 07. Sạ hoặc cấy lúa từ tháng 08 đến tháng 12 có xen tôm.
1.2 Chuẩn bị ao ương
  Ao ương(vèo) có độ sâu từ 1.2-1.4m được gia cố bờ chắc chắn không rò rỉ, ao ương phải được phơi khô (không nên phơi quá khô tránh hiện tượng xì phèn) sau đó lấy nước vào ao ương ngập 30cm rải 100kg vôi CaO (vôi nóng)/1.000m2 ngâm 5 ngày sau đó lấy nước vào đầy. Dùng túi lọc để loại bỏ cá và địch hại lấy nước vào ao đạt độ sâu 1.2m trở lên. Nếu lọc không kỹ trong ao có cá tạp thì sử dụng Saponin để diệt cá, liều lượng 10kg/ 1.000m3. Sau đó 2 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng Iodine 90 1lít/1.000m3. Ngoài ra để vèo đạt chất lượng, hạn chế mầm bệnh trên tôm hộ nuôi nên lót bạc ao vèo (150m2) và sử dụng hệ thống sục khí venturi.

Hình 1.2 Thiết kế hệ thống sục khí Venturi ao nuôi quảng canh cải tiến


 1.3 Gây màu
- Gây màu nước sử dụng 1kg phân NPK 20-20-15 và chế phẩm Robi cho 1.000 m3 (nếu trong ruộng nuôi nước có màu đỏ sử dụng phân NPK 20-20-0).
- Sau đó dùng vi sinh để giải phóng khí độc, cung cấp vi sinh vật có lợi, tạo thức ăn tự nhiên bằng Navec biozyme và Bioagar /1.000 m3.
- Khi các yếu tố về chất lượng nước đạt các thông số như: độ trong từ 30 - 40 cm (nước có màu xanh vỏ đậu); pH từ 7,5 - 8,5, độ kiềm từ 80-120 mg/l… thì có thể tiến hành thả tôm.
 1.4 Chọn và thả giống

  • Chọn tôm giống
    - Quan sát thấy tôm sú giống linh hoạt, khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sáng, đuôi xòe khi bơi lội, phản xạ nhanh nhẹn, phân bổ đều trong bể nuôi, hình dáng thon dài, ruột đầy thức ăn (khả năng bắt mồi tốt), tỉ lệ tòe đầu nhỏ hơn 10%.

- Kiểm tra khả năng thích nghi trong môi trường thay đổi nồng độ mặn bằng cách thả một ít tôm giống vào nước đã giảm một nửa độ mặn thông thường. Sau 1-2 giờ nếu thấy số tôm giống bị “sốc” chết chỉ chiếm từ 0 – 5% (tốt), 6-20% (khá), trên 20% là tôm giống không tốt.
- Chọn mua ở những trại giống uy tín và giống đã qua kiểm dịch của cơ quan chức năng.

  • Thả giống
    - Trước khi thả tôm ít nhất 01 ngày kiểm tra các yếu tố môi trường và điều chỉnh cho phù hợp. Có thể thả vào ao ương thuần dưỡng 15 – 20 ngày mới thả ra ao nuôi. Trong điều kiện ruộng nuôi chuẩn bị tốt thì có thể thả trực tiếp tôm vào ruộng.
    - Thời điểm thả: 6- 7h sáng hoặc 5 – 6 h chiều, không thả giống lúc trời sắp mưa, đang mưa. Khi thả nên tạc Vitamin C 35% để tôm không bị sốc và thích ứng tốt với môi trường nhanh.
    - Mật độ thả ao vèo:  20 - 30 con/m2.
    1.5 Chăm sóc quản lý

- Quản lý môi trường: đảm bảo độ mặn, màu tảo, độ pH, độ kiềm và khí độc trong ngưỡng an toàn cho phép.
- Quản lý màu nước:
   + Bón phân hoặc các hợp chất gây thức ăn tự nhiên trong khi vèo.
   + Khi có dấu hiệu tảo tàn thì thay 30% nước hoặc sử dụng men vi sinh
- Quản lý nền đáy ao:
   + Định kỳ bón Dolomite, Zeolite kết hợp với men vi sinh.
   + Định kỳ kiểm tra đáy ao
   + Vớt tảo tàn, lab lab trên mặt nước
   + Điều chỉnh thức ăn hợp lý
- Khi ương tôm sử dụng thức ăn với lượng 200 g/10.000 PL cho tuần đầu tiên kết hợp với gây thức ăn tự nhiên bằng sản phẩm Robi, bioagar. Lượng thức ăn được tăng 40g/ngày cho đến khi bung ra ngoài.

Hình 1.3 Gây thức ăn tự nhiên trong ao nuôi quảng canh cải tiến

 

- Làm sạch gốc rạ trên ruộng (sử dụng phân hủy rạ Baciluss us/Zk 07)→ sên vét lớp bùn đen ở dưới ao, gia cố bờ bao, cống bọng → Dùng vôi CaO rải đều khắp ruộng với liều lượng 7 – 10 kg/1000m2 → Phơi ruộng 5 - 7 ngày → lấy nước vào ruộng nuôi.
- Diện tích mương chiếm từ 20 - 30% so với mặt ruộng. Mương bao rộng 5m, độ sâu mương từ 1 - 1,2m, mặt ruộng chứa được nước từ 60-80cm. Bờ mương rộng từ 3 - 4m, chắc chắn, không rò rỉ.

- Mỗi ruộng nuôi nên có ao lắng diện tích từ 1.000 – 1.500m2 để cung cấp nước cho ruộng và ao vèo những lúc cần thiết (có thể sử dụng mương vườn làm ao lắng). Đối với những vùng đất phèn không nên đào mương quá sâu chạm đến tầng phèn. Ruộng mới đào nên ngâm nước từ 2 - 3 ngày rồi xả ra để rửa ruộng, làm lặp lại từ 2 - 3 lần để khử kim loại nặng, thuốc sâu tồn lưu.
- Với ruộng cũ: Vét bùn đối với ruộng đã nuôi nhiều vụ, loại bỏ bớt rơm và gốc rạ, cày xới mặt ruộng làm cho đất tơi xốp giúp loại bỏ khí độc và làm tăng dinh dưỡng cho ruộng.

2.2 Lấy nước, diệt cá tạp và gây màu
- Sau mỗi vụ sản xuất ruộng nuôi phải được phơi khô (không nên phơi quá khô tránh hiện tượng xì phèn).
- Lấy nước vào ruộng cần được lọc qua lưới lọc để hạn chế cá và địch hại, ngập mặt ruộng khoảng 80cm bón vôi CaO (vôi nóng) 100 – 150kg/ha mục đích khi vôi tỏa nhiệt với nhiệt độ cao sẽ tiêu diệt được mầm bệnh trong ao, khoáng hóa nền đáy, giải phóng khí độc tích tụ ở đáy ao.

- Sử dụng Saponin với lượng từ 15 – 20g/m3. Saponin có tác dụng mạnh ở môi trường có độ muối cao (từ 15 trở lên). Nên sử dụng saponin vào những ngày trời nắng tốt, ngâm saponin trong nước khoảng 12 giờ sau đó tạt đều khắp ao.
- Tiến hành diệt rong (Kill agar DRT/ ZDRT) và gây màu nước sử dụng Bioagar + 10kg phân NPK20-20-15/ha. Trộn chung 2 loại gây màu tảo và thức ăn tự nhiên trên, sau đó rải đều ruộng nuôi (nếu trong ruộng nuôi nước có màu đỏ sử dụng phân NPK 20-20-0).

Hình 2.1 Rong phát triển trong ao nuôi quảng canh cải tiến

- Sử dụng sản phẩm giải độc nước ZAM để khử thuốc sâu, kim loại nặng còn tồn lưu, giúp tôm không bệnh vảnh mang, thả đạt đầu con.
- Cấy vi sinh để giải phóng khí độc, cung cấp vi sinh vật có lợi, tạo thức ăn tự nhiên dùng sản phẩm VS 01 hay Zp Us.

- Khi các yếu tố về chất lượng nước đạt các thông số như: độ trong từ 30 - 40 cm (nước có màu xanh vỏ đậu); pH từ 7,5 - 8,5, độ kiềm 80-120 mg/l… thì có thể tiến hành sang tôm từ ao ương (ao vèo) qua. Mật độ 1con/m2 với trường hợp không cho ăn, mật độ 2-3con/m2  bổ sung cho ăn tháng cuối.
-
Sử dụng định kỳ 15 ngày/lần khoáng tạt Bioalgar 10kg/ha, ZAM, VS 01 đến khi tôm thu hoạch.
3. Phòng trị một số bệnh thường gặp
3.1 Ao nuôi tôm bị rớt tảo, tôm nổi đầu vì khí độc cao

Cách xử lí: Sử dụng khoáng gây tảo Bioagar 5kg/3.000m2 vào lúc 8h sáng và sử dụng Apac new kết hợp vi sinh VS01 5lít/3.000 m3.
3.2 Bệnh đóng rong, đòng khói đèn, đen mang, đứt râu, sâu đuôi
- Nguyên nhân: do môi trường bị ô nhiễm các nhóm nguyên sinh động vật, tảo đơn bào, vi khuẩn phát triển mạnh bám vào cơ thể tôm. Nguồn nước trong ruộng nuôi bị nhiễm bẩn, đáy ao dơ, các yếu tố môi trường bị biến động và các loài vi khuẩn Vibrio spp gây ra.

- Cách xử lí: sử dụng Iodin 90 hay BKC 99 diệt khuẩn, sau đó dùng VS01 để cải tạo nền đáy ao lại.
3.3  Tôm bỏ ăn và đường ruột không có thức ăn
Cách xử lí: kiểm tra các yếu tố môi trường, gây tảo tạo thức ăn thêm cho tôm.
3.4 Tôm thả nuôi bị kéo đàn rong mé, nước trong
Cách xử lí: sử dụng vi sinh VS AEC 0,5kg/3.000 m2 +  5kg cám+ 3kg đậu nành +1kg mật đường và 20 lít nước sạch ủ hiếm khí 12-24h tạt vào buổi sáng. Đồng thời kết hợp VS 01 xử lý khí độc và làm sạch đáy ao.

3.5 Bệnh đốm trắng, đỏ thân
- Triệu chứng: Tôm yếu, dạt bờ, bơi lên mặt nước. Thân tôm xuất hiện các đốm trắng tròn nằm dưới lớp vỏ kitin ở phần đầu ngực và đốt cuối thân. Khi tôm bị nặng các đốm trắng này xuất hiện toàn thân. Màu sắc tôm chuyển sang màu hồng (đỏ thân) hoặc màu nhợt nhạt, lúc này tôm giảm ăn, những con dạt bờ hầu hết ruột không có thức ăn. Tôm chết rất nhanh trong thời gian 5 -7 ngày. Lây lan từ tôm mẹ sang tôm con, từ tôm bệnh sang tôm không bệnh, từ vật chủ trung gian (cua, còng, ba khía, các loại giáp xác khác…)
- Phòng trị: Chưa có thuốc đặc trị, chủ yếu vẫn là phòng bệnh. Cải tạo ruộng thật kỹ trước mỗi vụ nuôi, chọn đàn tôm giống không mang mầm bệnh, quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường, đáy ao, quản lý thức ăn, cấp nước…

3.6 Bệnh phát sáng trứng nước

Cách xử lý: khi độ mặn cao trên 15và nhiều vật chất hữu cơ, nguồn nước ô nhiễm thì bệnh phát sinh. Dùng sản phẩm Super DRT để diệt phát sáng (sử dụng buổi tối 7h), đối với trứng nước thì diệt buổi sáng 7-8h tại điểm trứng nước tập trung nhiều.

3.7 Bệnh hoại tử gan tụy cấp chết sớm (EMS) và tôm chết rãi rác

Bệnh xảy ra vào mùa nóng, độ mặn và nhiệt độ cao. Phòng bệnh là hữu hiệu nhất, hạn chế cấp nước từ bên ngoài vào khi có mầm bệnh xuất hiện, ruộng nuôi sâu và giữ nước. Nước cấp phải qua ao lắng được xử lý kĩ, dùng Iodine 90 hay BKC 99 để diệt khuẩn định kì. Sử dụng vi sinh để tạo môi trường sạch, khuẩn có lợi át chế có hại và giảm khí độc, tăng cường sức đề kháng cho tôm.

4. Thu hoạch 

Sau thời gian nuôi 3-4 tháng khi tôm đạt kích cỡ 35 – 20 con/kg thì thu hoạch, có thể thu tỉa sau đó rút cạn nước thu toàn bộ. Sau đó tiến hành vèo tôm lại nuôi vụ 2 đến tháng 7 thu hoạch xong thì trồng lúa.

Hình 4.1 Thu hoạch tôm trong ao nuôi quảng canh cải tiến tôm-lúa

 

5. Hoạch toán chi phí sản xuất mô hình tôm lúa

6. Một số sản phẩm công ty Âu Mỹ phục vụ nuôi tôm-lúa

 

CTCP TMDV ĐT Âu Mỹ (AEC) bảo lưu QTG

ThS Hoàng Tuấn

Ghi rõ nguồn AECaqua.com khi đăng lại thông tin này.

 

Xem thêm các sản phẩm và cách sử dụng hiệu quả tại đây >>

 

Để lại bình luận

popup

Số lượng:

Tổng tiền: